Thứ Năm, 12 tháng 11, 2009

Toàn cảnh kiểm tóan nội bộ ngân hàng (kỳ 1)

Kế hoạch kiểm toán hàng năm bao gồm những nội dung sau:
http://www.saga.vn/Upload/acer3610/private.jpg
  1. Đánh giá rủi ro tổng quát trong bối cảnh môi trường kinh tế, môi trường hoạt động, đánh giá các tác động của môi trường pháp lý và của những thay đổi nội bộ ảnh hưởng đến hoạt động của toàn hệ thống.
  2. Rà soát kết quả hoạt động năm trước, mục tiêu kế hoạch kinh doanh năm hiện tại.
  3. Xác định bộ phận được kiểm toán tại các Ban, Phòng Hội sở chính, Đơn vị thành viên.
  4. Phân tích và đánh giá rủi ro từng bộ phận.
  5. Các mục tiêu kiểm toán.
  6. Phạm vi công việc.
  7. Nguồn lực cần thiết để thực hiện cuộc kiểm toán.
  8. Chương trình làm việc nhằm cụ thể hoá kế hoạch của cuộc kiểm toán nội bộ.
  9. Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở đánh giá rủi ro và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của các đơn vị trong hệ thống, căn cứ vào kết quả kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ lần trước cũng như yêu cầu của Hội đồng Quản trị.
  10. Đánh giá rủi ro tổng quát:

- Tóm tắt những rủi ro đã xảy ra trong ngành Ngân hàng và tại NHTM năm trước và phương thức xử lý những rủi ro này.

- Đánh giá tổng thể các rủi ro trong năm hiện tại, trong đó có rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động khác đối với toàn hệ thống và đối với các đơn vị thành viên.

  1. Đánh giá nền tảng kinh tế và môi trường hoạt động:

- Các chỉ số kinh tế cơ bản tác động đến hoạt động Ngân hàng:


    Năm tài chính trước Dự báo năm hiện tại
    Tỷ lệ tăng trưởng GDP

    Tỷ lệ lạm phát

    Tỷ lệ thất nghiệp

    Tỷ lệ lãi suất:

    + Lãi suất cho vay

    + Lãi suất tiền gửi

    + Lợi nhuận



    Tỷ giá hối đoái


- Các xu hướng chính của nền kinh tế tác động đối với các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Ngân hàng (cho vay, rủi ro nợ khó đòi...) mà công việc của kiểm toán nội bộ cần tập trung.

  1. Rà soát môi trường pháp lý tác động đến hoạt động của Ngân hàng:

- Những thay đổi về luật pháp và phạm vi hoạt động của Ngân hàng sẽ bị tác động, ảnh hưởng.

- Các vi phạm chế độ chính sách được phát hiện trong các cuộc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán trước.

- Các văn bản yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước cho phép đánh giá tính tuân thủ của Ngân hàng (các chỉ tiêu an toàn hoạt động ngân hàng...).

  1. Soát xét kết quả hoạt động:

- So sánh các chỉ tiêu về kết quả hoạt động với kế hoạch trong thời kỳ từ 3 - 5 năm.

- Soát xét chi tiết theo từng khoản mục trong các báo cáo tài chính (gồm bản cân đối kế toán và và báo cáo kết quả kinh doanh …).

- Đánh giá kết quả hoạt động, những dẫn liệu cho thấy có vấn đề trong hoạt động kinh doanh của các đơn vị thành viên.

  1. Soát xét những thay đổi cơ cấu tổ chức cán bộ:

Các thay đổi trong cơ cấu tổ chức và nhân sự đã diễn ra như:

- Thành lập Chi nhánh, đơn vị mới;

- Thay đổi nhân sự ở những vị trí chủ chốt, quan trọng (Giám đốc, Trưởng, Phó phòng...).

Các vấn đề khác liên quan đến quản lý điều hành, giám sát hoạt động và nhân sự tại các đơn vị thành viên:

- Năng lực chuyên môn và kinh nghiệm các nhân sự chính.

- Chính sách tuyển dụng, bổ nhiệm và chấm dứt hợp đồng làm việc, quan điểm của Ban lãnh đạo về chế độ đãi ngộ, tiền lương, thực hiện các chương trình đào tạo...

  1. Soát xét môi trường nội bộ thông qua đánh giá các nguồn thông tin:

- Kế hoạch kinh doanh, các báo cáo quản trị và tài chính.

- Hệ thống văn bản nội bộ.

- Báo cáo và biên bản các cuộc họp của các hội đồng trong NHTM.

- Các quy trình, thủ tục và các sổ tay nghiệp vụ.

- Kết quả kiểm toán năm trước.

- Các vấn đề cụ thể do HĐQT và Ban lãnh đạo đưa ra.

  1. Đánh giá và phân loại rủi ro ở các cấp làm cơ sở lập kế hoạch về quy mô kiểm toán:

- Đánh giá rủi ro theo 3 mức: Rủi ro cao; rủi ro trung bình và rủi ro thấp (được đề cập chi tiết dưới đây).

- Tần suất kiểm toán nội bộ theo đánh giá rủi ro.

- Không tuân thủ pháp luật và các quy định nội bộ của NHTM.

- Sử dụng các nguồn lực lãng phí, không hiệu quả.

- Không hoàn thành những mục tiêu đã hoạch định cho các hoạt động hoặc chương trình.

    Khi xây dựng kế hoạch kiểm toán, cần phải phân loại theo cấp bậc rủi ro khác nhau cho từng đơn vị được kiểm toán. Thông thường xác định ba cấp bậc rủi ro: cao, trung bình và thấp. Bảng so sánh giữa việc đánh giá hệ thống kiểm soát và đánh giá rủi ro thể hiện dưới đây:

Đánh giá rủi ro Đánh giá kiểm soát
Cao Yếu
Trung bình Trung bình
Thấp Tốt

Theo đó:

- Những đơn vị có rủi ro cao:

Bất kỳ đơn vị nào có 2 hoặc nhiều yếu tố nêu dưới đây:

+ Thay đổi Giám đốc trong vòng 12 tháng trở lại đây;

+ Thay đổi cơ cấu tổ chức trong vòng 12 tháng trở lại đây;

+ Thay đổi nhiều cán bộ ở các vị trí chủ chốt.

+ Cán bộ ở các vị trí, các bộ phận quan trọng có mối quan hệ gia đình, họ hàng với Giám đốc hoặc với nhau.

+ Có các sản phẩm, dịch vụ mới trong vòng 12 tháng trở lại đây.

+ Đơn vị thua lỗ trong bất kỳ giai đoạn nào trong vòng 2 năm trở lại đây.

+ Có các sai phạm nghiêm trọng, tái phạm nhiều lần các quy định của pháp luật và của nội bộ NHTM được phát hiện qua các cuộc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán trước.

+ Không chỉnh sửa đầy đủ những phát hiện, kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.

+ Hội đồng Quản trị và Tổng Giám đốc có sự quan tâm, lưu ý hoặc đưa ra các vấn đề cần xử lý đối với đơn vị;

+ Danh mục tín dụng có nhiều vấn đề, nợ quá hạn và nợ xấu vượt mức bình quân toàn hệ thống.

+ Tăng trưởng tín dụng trên mức tăng trưởng bình quân toàn hệ thống.

+ Có những thay đổi bất thường trong các báo cáo quản trị và báo cáo tài chính.

- Những đơn vị có rủi ro thấp:

Không có bất kỳ một yếu tố nào được nêu trong mục “Những đơn vị có rủi ro cao”.

- Những đơn vị có rủi ro trung bình:

Là những đơn vị không có bất kỳ những đặc điểm của rủi ro cao nhưng ở vị thế yếu hơn so với đơn vị có rủi ro thấp.

Đánh giá rủi ro là tiến trình có tính hệ thống để phân tích, đánh giá tổng hợp những xét đoán về rủi ro có thể gây tác hại cho NHTM, làm công cụ để thiết lập kế hoạch kiểm toán nội bộ hàng năm của NHTM. Khi lập kế hoạch kiểm toán cần phải xác định thứ tự ưu tiên kiểm toán cao hơn cho các hoạt động có rủi ro cao hơn. Tiến trình đánh giá rủi ro để thiết lập kế hoạch kiểm toán của NHTM cần phải kết hợp chặt chẽ các thông tin từ các nguồn khác nhau, bao gồm:

- Những cuộc họp giữa kiểm toán nội bộ với Hội đồng Quản trị và Ban Điều hành NHTM.

- Những nội dung thảo luận giữa lãnh đạo Ban kiểm soát với lãnh đạo, cán bộ nhân viên kiểm toán nội bộ.

- Thảo luận với các kiểm toán viên độc lập.

- Xem xét việc thực hiện pháp luật và các quy định nội bộ của NHTM.

- Phân tích các dữ liệu tài chính và hoạt động của NHTM, các định hướng của NHTM, của ngành ngân hàng và của nền kinh tế.

Theo Kiểm toán trẻ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bài đăng phổ biến