Toàn cảnh kiểm tóan nội bộ ngân hàng (kỳ 1)
Toàn cảnh kiểm tóan nội bộ ngân hàng (kỳ 2)
Căn cứ kế hoạch và chương trình kiểm toán cụ thể, giai đoạn này bao gồm các công việc:
a) Đánh giá rủi ro kiểm soát và thiết kế các thử nghiệm kiểm soát:
- Một vấn đề mang tính bản chất gắn với hệ thống kiểm soát nội bộ, đó là rủi ro kiểm soát. Hệ thống kiểm soát nội bộ càng hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát càng thấp và ngược lại khi hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém thì rủi ro kiểm soát càng cao.
Nhân viên kiểm toán nội bộ cần đánh giá rủi ro kiểm soát để xác định phương hướng và phạm vi kiểm toán. Nếu rủi ro cao, nhân viên kiểm toán nội bộ phải tăng cường và mở rộng phạm vi kiểm toán để xác định được các sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính và các vi phạm về chính sách. Ngược lại, rủi ro kiểm toán thấp (hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu), nhân viên kiểm toán nội bộ có thể giới hạn phạm vi kiểm toán mà vẫn đảm bảo xác định được sai sót ở mức độ cho phép.
Đánh giá sơ bộ rủi ro và thiết kế thử nghiệm kiểm soát nhằm xác định thủ tục kiểm soát nội bộ nào được tiến hành thử nghiệm .
- Sự tồn tại rủi ro kiểm soát và bản thân hệ thống kiểm soát nội bộ không thích hợp, thể hiện:
+ Trái pháp luật hoặc không phù hợp với quy định của cấp trên.
+ Quy định không có tính khả thi (quá phức tạp hoặc quá đơn giản).
+ Không kịp thời khi có những hoạt động hoặc chương trình mới.
+ Không kịp thời thay đổi khi pháp luật và quy định của cấp trên thay đổi.
- Hệ thống kiểm soát nội bộ thiếu chặt chẽ, hợp lý, thể hiện:
+ Thiếu đồng bộ các thủ tục kiểm soát chung và riêng biệt.
+ Quy định không thật phù hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị.
+ Thiếu những quy định chi tiết có tính chất hướng dẫn tác nghiệp.
+ Mâu thuẫn trên các quy định.
+ Bỏ trống những hoạt động cần kiểm soát.
+ Hệ thống kiểm soát nội bộ không được thực thi đầy đủ.
+ Người quản lý lạm quyền.
+ Kiểm soát việc tiếp cận tài sản và thông tin.
+ Quá coi trọng hình thức.
+ Lợi ích cục bộ và chính sách nhân sự.
- Các bước đánh giá rủi ro và thiết kế các thử nghiệm kiểm soát:
+ Xác định lại các sai sót, gian lận có thể xẩy ra trong báo cáo của đơn vị.
+ Đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc ngăn chặn và phát kiện các gian lận và sai sót.
+ Đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát của các gian lận và sai sót dựa trên thiết kế của hệ thống kiểm soát nội bộ và kết quả của một số phép thử được tiến hành trong giai đoạn tìm hiểu đơn vị.
+ Nếu mức rủi ro kiểm soát được đánh giá là không cao ở mức tối đa hoặc nhân viên kiểm toán nội bộ xét thấy có khả năng giảm bớt rủi ro kiểm soát đã đánh giá xuống mức thấp hơn, nhân viên kiểm toán nội bộ sẽ xác định các thử nghiệm kiểm soát cần thiết để có được bằng chứng về sự hữu hiệu tương ứng của kiểm soát nội bộ. Đây cũng là cơ sở để nhân viên kiểm toán nội bộ gia hạn phạm vi của các thử nghiệm cơ bản phải tiến hành đối với các khoản mục liên quan.
Ngược lại, nếu mức rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức cao và xét thấy không có khả năng giảm được trong thực tế thì nhân viên kiểm toán nội bộ không cần tiến hành các thử nghiệm kiểm soát mà phải tiến hành các thử nghiệm cơ bản ở mức độ phù hợp.
b) Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát:
- Thử nghiệm kiểm soát là các thử nghiệm được tiến hành để thu thập bằng chứng về khả năng bảo đảm ngăn chặn và phát hiện được các sai sót trọng yếu. Các thử nghiệm này dùng để đánh giá tinh hữu hiệu của kiểm soát nội bộ trên cả lý thuyết lẫn thực tế.
- Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ, được thể hiện.
+ Sự hữu hiệu của loại hình kiểm soát được xây dựng để đảm bảo các cơ sở dữ liệu cơ bản cho mỗi khoản mục trên báo cáo tài chính.
+ Sự tồn tại và xuất hiện của tài sản và nghiệp vụ.
+ Sự đầy đủ, quyền sở hữu đối với tài sản.
+ Đánh giá, hạch toán đúng kỳ, khai báo đầy đủ trên báo cáo tài chính.
- Các phương pháp tiến hành các thử nghiệm kiểm soát:
+ Phỏng vấn nhân viên thích hợp.
+ Kiểm tra chứng từ sổ sách.
+ Quan sát việc chấp hành các thủ tục.
+ Thực hiện lại các quy trình áp dụng các chính sách, thủ tục.
c) Đánh giá cuối cùng về rủi ro kiểm soát và thiết kế các thử nghiệm cơ bản:
Sau khi thực hiện các thử nghiệm kiểm soát, nhân viên kiểm toán nội bộ tiến hành đánh giá cuối cùng về rủi ro kiểm soát và điều chỉnh lại chương trình kiểm soát (phần các thử nghiệm cơ bản):
- Mở rộng các thủ tục kiểm toán ở những bộ phận mà rủi ro kiểm soát được đánh giá là cao, giới hạn các thủ tục kiểm soát ở những bộ phận có mức rủi ro kiểm soát thấp .
- Trình bầy trong “Bảng đánh giá rủi ro kiểm toán” nội dung đánh giá cuối cùng vì rủi ro kiểm soát và các điều chỉnh thử nghiệm cơ bản.
- Thử nghiệm cơ bản của hệ thống (kiểm toán hệ thống):
+ Là thu thập đầy đủ các bằng chứng cho các dấu hiệu của các khoản mục nhằm xác định sự chính xác về mặt số liệu của các chỉ tiêu cơ bản của báo cáo được kiểm toán.
+ Nội dung, thời gian, phạm vi của thử nghiệm cơ bản đối với các chỉ tiêu cơ bản của báo cáo được kiểm toán phụ thuộc vào kết quả đánh giá của nhân viên kiểm toán nội bộ về rủi ro kiểm soát thông qua các thử nghiệm kiểm soát hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Các bước thử nghiệm cơ bản của hệ thống (Kiểm toán hệ thống):
+ Khảo sát hệ thống.
+ Xác nhận hệ thống.
+ Phân tích hệ thống: Đánh giá rủi ro phát sinh trong quy trình, tính hiệu quả chung của quy trình, đặc biệt hiệu quả kiểm tra để hạn chế rủi ro, bao gồm 2 khía cạnh là tính hợp lý của quy trình về lý thuyết và tính hợp lý của quy trình về thực tiễn.
+ Đánh giá khác biệt giữa quy trình lý thuyết và quy trình đã được thực hiện và đánh giá hệ thống (đánh giá tính đầy đủ, chính xác, kịp thời, đúng thẩm quyền các nghiệp vụ được xử lý trong quy trình và trong khuôn khổ xử lý đúng thẩm quyền cần phân tích những rủi ro đã được hạn chế như thế nào).
- Thực hiện các chương trình thử nghiệm cơ bản là kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư tài khoản như kiểm tra các chứng từ, kiểm tra các báo cáo được kiểm toán và kiểm tra từng khoản tín dụng cụ thể...
Các thử nghiệm cơ bản thích hợp với việc kiểm tra các đơn vị, các nghiệp vụ có tính chất không phức tạp hoặc những bộ phận, những khoản mục nhạy cảm trong kinh doanh (mà khi phân tích tổng quát thường chưa đủ để đưa ra kết luận kiểm toán). Đối với hoạt động, như hoạt động hiện nay của các đơn vị thuộc NHTM có quy mô hoạt động và khối lượng giao dịch hàng ngày lớn thì nhân viên kiểm toán nội bộ không thể tiến hành kiểm tra chi tiết toàn bộ các nghiệp vụ, các số dư tài khoản mà chủ yếu được dựa trên cơ sở kiểm tra mẫu cho một số nghiệp vụ cùng loại (Phương pháp kiểm tra chọn mẫu ).
- Phân tích, đánh giá tổng quát:
Xem xét mối tương quan giữa các thông tin để đưa ra nhận xét, so sánh giữa các thông tin thực tế với các cơ sở gốc nhằm phát hiện rủi ro tiềm tàng, phân tích hoạt động của đơn vị, xác định yêu cầu kiểm tra chi tiết và đưa ra những định hướng chung cho cuộc kiểm toán .
- Giám sát và kiểm tra trực tiếp:
Như kiểm quỹ, kiểm kê, xác nhận trên thực tế như lấy xác nhận của người thứ 3 như nhà cung cấp, khách hàng, các đối tác .
- Kiểm tra sự chính xác số học và kiểm tra tính cân đối có tính chất hệ thống.
d) Chọn mẫu kiểm toán:
- Nhân viên kiểm toán nội bộ chọn các phần tử đại diện có đặc điểm như tổng thể, đủ độ tiêu biểu cho tổng thể làm cơ sở cho kiểm tra, đánh giá rút ra kết luận chung cho tổng thể nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu về chất lượng kiểm toán với khả năng xác định toàn diện đối với các đối tượng kiểm toán có quy mô và khối lượng giao dịch hàng ngày cao.
- Chọn mẫu kiểm toán theo tinh thần và với số lượng xác định, với tính đại diện cao của mẫu chọn sẽ giúp cho nhân viên kiểm toán nội bộ vẫn đảm bảo chất lượng kiểm toán trong thời lượng có hạn và chi phí kiểm toán thấp. Tính đại diện của mẫu càng cao thì số mẫu kiểm toán sẽ càng ít nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu chất lượng kiểm toán.
- Khi chọn mẫu kiểm toán, nhân viên kiểm toán nội bộ cần thực hiện các yêu cầu sau:
+ Phải căn cứ vào mục tiêu của cuộc kiểm toán hay nội dung kiểm toán để xác định tổng thể cần kiểm tra, đồng thời phải hiểu sâu sắc bản chất kinh tế của tổng thể để chọn mẫu tiêu biểu và thích hợp, đủ về quy mô, số lượng đại diện cho tổng thể .
+ Phải xác định tiêu thức đánh giá các sai số, mức sai số, chấp nhận được làm cơ sở đưa ra những kết luận kiểm toán, đồng thời phải phân tích các rủi ro có thể gây ra của mẫu, khả năng phát sinh các sai sót và dự kiến các phương án giảm thiểu những rủi ro do phương pháp chọn mẫu đưa lại .
+ Lựa chọn và thực hiện phương pháp chọn mẫu thích hợp, sau đó tiến hành kiểm toán mẫu chọn để thu thập bằng chứng kiểm toán, trên cơ sở đó khái quát tổng thể từ mẫu để đưa ra những kết luận hoặc tiến hành các thủ tục kiểm toán tiếp theo (điều chỉnh phạm vi quy mô hoặc bổ sung, thay đổi phương pháp kiểm toán khi các sai số vượt quá mức chấp nhận được).
+ Quá trình thực hiện chọn mẫu phải tuân theo quy trình của phương pháp chọn mẫu đã lựa chọn.
- Chọn mẫu kiểm toán có thể sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, chọn mẫu theo xét đoán, chọn mẫu theo hệ thống chọn mẫu trên cơ sơ phân cấp chọn mẫu bằng máy vi tính. Khi thực hiện phương pháp kiểm toán chọn mẫu cần tiến hành các bước công việc sau:
+ Chuẩn bị chọn mẫu gồm xác định mục tiêu cụ thể của nội dung cần kiểm toán; xác định tổng thể và đơn vị chọn mẫu; xác định tiêu thức đánh giá về các sai sót, lệch lạc, xác định sai số chấp nhận được và ước tính tỷ lệ sai số, lệch lạc trong tổng thể và xác định rủi ro có thể chấp nhận được.
+ Tiến hành chọn mẫu gồm xác định quy mô mẫu và chọn theo phương pháp cụ thể thích hợp.
+ Công việc sau chọn mẫu gồm khái quát tổng thể từ mẫu; phân tích sai số lệch lạc và quyết định khả năng chấp nhận được của tổng thể, mở rộng phạm vi kiểm toán, điều chỉnh phương pháp kiểm toán
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét